Plywood tiêu chuẩn ENF: mức phát thải formaldehyde thấp nhất cho ván nội thất

Amy Living nâng phần ván trong sản phẩm lên chuẩn ENF, giới hạn 0,025 mg/m³, bằng một nửa mức E0. Vì sao con số này khó so với bảng E0 quen thuộc, và cách đọc một tờ chứng nhận cho đúng.
Amy Living vừa nâng cấp tiêu chuẩn plywood sử dụng sang đạt chuẩn ENF, mức phát thải formaldehyde thấp nhất mà thang phân loại hiện hành đặt ra cho ván nhân tạo. Với một căn hộ đóng kín và chạy máy lạnh gần như quanh năm, đó là con số thực sự đáng quan tâm và cân nhắc.
Tiêu chuẩn ENF là gì?
ENF là viết tắt của Extra-low No-Formaldehyde-added, cấp cao nhất trong thang phân loại phát thải formaldehyde của ván nhân tạo theo tiêu chuẩn GB/T 39600-2021, . Thang này có ba bậc, đo bằng phương pháp buồng khí một mét khối: E1 cho phép tối đa 0,124 mg/m³, E0 cho phép tối đa 0,050 mg/m³, còn ENF chỉ cho phép 0,025 mg/m³. Nói cách khác, ENF thấp gấp đôi so với E0 và thấp gần năm lần so với E1, và đó là lý do một nhà máy muốn đạt cấp này thì phải đổi cả hệ keo chứ không thể chỉ chọn nguyên liệu kỹ hơn.
Vì sao con số của ENF không so thẳng được với con số E0 bạn từng đọc
Đây là chỗ dễ hiểu nhầm nhất khi khách hàng tự tra cứu. Bảng E0, E1 và E2 mà ngành nội thất Việt Nam hay dẫn thường ghi theo mg/100g, tức phương pháp đục lỗ, trong đó E2 cho phép tối đa 30 mg/100g, E1 tối đa 10 mg/100g và E0 chỉ 3 mg/100g. Con số đó cho biết lượng formaldehyde đang nằm trong tấm ván, còn thang ENF cho biết lượng thoát ra không khí trong buồng thử, nên hai cách đo trả lời hai câu hỏi khác nhau. Khi cầm một tờ chứng nhận, bạn nên nhìn phương pháp thử trước rồi mới nhìn con số, vì hai con số đẹp như nhau có thể đến từ hai phép đo không thể đặt cạnh nhau.
Không thêm formaldehyde không có nghĩa là bằng không
Chữ không thêm nói về keo dán chứ không nói về tấm ván thành phẩm. Keo urea formaldehyde truyền thống được thay bằng keo MDI gốc isocyanate hoặc keo gốc đậu nành, nên trong quá trình sản xuất không có formaldehyde nào được đưa thêm vào. Nhưng bản thân gỗ tự nhiên vẫn giải phóng một lượng formaldehyde rất nhỏ trong suốt vòng đời của nó, vì vậy không có tấm ván gỗ nào đạt mức bằng không tuyệt đối.
Vì sao mức này đáng quan tâm?
Một tấm ván riêng lẻ hầu như không nói lên điều gì, nhưng cả một căn hộ thì giống như bạn cộng tất cả các tấm ván lại rồi nhốt chung trong một phòng đóng kín. Tổng diện tích ván trong nhà thường lớn hơn nhiều so với hình dung, vì nó nằm trong mặt bàn, trong kết cấu bên trong ghế, trong hệ kệ và trong từng chiếc tủ nhỏ. Phòng ngủ lại là nơi đóng cửa suốt đêm và máy lạnh thì tuần hoàn không khí cũ thay vì lấy khí mới, nên phát thải cộng dồn ở đó cao hơn phòng khách. Với gia đình có trẻ nhỏ hoặc người lớn tuổi ở nhà nhiều giờ mỗi ngày, chênh lệch giữa 0,050 và 0,025 mg/m³ không còn là con số trên giấy nữa.
Dấu hiệu có thể cảm nhận được ngay chính là mùi của sản phẩm. Nội thất dùng keo phát thải cao thường để lại mùi hắc phải mở cửa nhiều ngày mới bay hết, và mùi đó sẽ đang khuếch tán vào không khí bạn thở.
Amy Living dùng ENF ở đâu trong sản phẩm
Toàn bộ phần ván chuyển sang ENF, gồm mặt bàn, thân bàn, kết cấu bên trong sofa và ghế, hệ kệ rời, tủ nhỏ cùng các module linh hoạt. Phần khung chịu lực vẫn là gỗ đặc, vì đó là nơi phải giữ vít và nhận đinh ghim suốt vòng đời sản phẩm, và bạn có thể đọc thêm về lý do chọn gỗ dẻ gai làm khung nội thất. Trước đây tiêu chuẩn ván của công ty là E0, mức đã được mô tả trong bài Plywood E0, tiêu chuẩn vật liệu của Amy Living, và ENF là bước kế tiếp của chính lộ trình đó.
Việc nâng cấp này không làm thay đổi cách sản phẩm được đóng, cũng không đổi cảm giác ngồi, bởi cảm giác ấy đến từ lớp mút và cách xếp các lớp đệm chứ không đến từ tấm ván bên trong. Thứ thay đổi nằm ở không khí trong phòng đặt bộ sofa đó, và đấy là phần bạn sống cùng mỗi ngày mà không nhìn thấy.
Câu hỏi thường gặp
ENF hơn E0 ở điểm nào?
Giới hạn phát thải của ENF bằng một nửa E0 khi cùng đo bằng buồng khí một mét khối, tức 0,025 so với 0,050 mg/m³. Khác biệt lớn hơn nằm ở cách đạt được mức đó, vì ENF buộc nhà máy phải bỏ hẳn keo urea formaldehyde thay vì chỉ kiểm soát chặt hơn lượng keo cũ.
Ván ENF có bền bằng ván E0 không?
Bền tương đương và ở môi trường ẩm thì thường tốt hơn, bởi keo MDI chịu nước tốt hơn keo urea formaldehyde. Độ cứng và khả năng giữ vít của tấm ván đến từ số lớp, chất lượng gỗ và cách ép, nên đổi loại keo không làm yếu kết cấu.
Nội thất mới vẫn có mùi thì có phải ván kém không?
Không hẳn, vì mùi của đồ mới còn đến từ sơn hoàn thiện, từ lớp keo dán bề mặt và từ vật liệu bọc. Điều đáng chú ý là mùi hắc và cay mắt kéo dài nhiều tuần mới là dấu hiệu của keo phát thải cao chứ không phải mùi gỗ và sơn thông thường.




